Humanity’s Day (First Sunday of New Year)
Ngày tôn vinh Tình Người (Chủ Nhật thứ nhất, hằng năm).
Humanity’s Day (First Sunday of New Year)
Ngày tôn vinh Tình Người (Chủ Nhật thứ nhất, hằng năm).
Ngày tôn vinh Tình Người là ngày Chủ Nhật Thứ Nhất, hằng năm.
Humanity’Day
(First Sunday of New Year).
Ngày Tôn vinh Tình Người, Chủ Nhật đầu tiên, hằng năm.
HẠNH PHÚC
Lê Quý Long
Hạnh phúc là niềm ước mơ và khao
khát của mọi người. Ai chưa có được, thì chạy kiếm. “Chạy kiếm” là chính đáng,
chứ không thể chậm trễ. Nhưng, nhiều người “chạy” chưa đúng đường; “kiếm” chưa
đúng chỗ hoặc chưa đúng cách. Cứ ngỡ hạnh phúc ở trong giàu sang, mãi chạy theo
con đường ấy, kiếm hoài chẳng ra! Người đã giàu sang, muốn giàu sang hơn nữa,
hoặc lo sợ một ngày nào đó, “mất đi” những gì quí báu trong tay mình. Muốn thêm mà không được; lo sợ mất cái mình
đang có… là những nỗi khổ! Kẻ nhận thấy mình không thể giàu sang được, nảy sinh
gian tham, lừa đảo, trộm cắp, cướp giựt… Ngỡ hạnh phúc là quyền lợi, là địa vị,
dốc sức chạy theo con đường nầy, tìm mãi cũng không thấy! Người đã được địa vị
cao, có nhiều quyền lợi lớn, nhưng quyền lợi không thể kéo dài, địa vị rồi cũng
“ra đi”… họ cảm thấy buồn và đau khổ; kẻ chưa có được hoặc không thể có được,
đem lòng ganh tỵ, tìm cách quậy phá, sát hại… Ngỡ hạnh phúc là tình yêu, là lạc
thú… tìm mọi cách “ăn chơi”, dẫn đến chỗ suy đồi, tội lỗi và có khi phải nhận
lấy những căn bệnh hiểm nghèo! Một văn hào người Pháp, ông Albert Camus, đã xót
xa cho họ: “Không có gì thảm thương hơn cuộc sống của một người có hạnh phúc”.
Phải chăng, ông xót xa cho sự nhầm lẫn của những hạng người nói trên, ôm vào
lòng một mớ phức tạp mà đinh ninh đó là những hạnh phúc!
Thế hệ đi trước, thế hệ đàn anh của
chúng ta, nếu mãi nhầm lẫn về hạnh phúc, sẽ thất vọng, khổ đau. Sự thất bại của
chúng ta hôm nay, ảnh hưởng không tốt cho thế hệ trẻ, chúng sẽ bi quan, thất
vọng… sẽ đi tìm những thú vui tạm bợ, dù biết nguy hiểm, để gọi là an ủi: có cô
“bán thân”, có cậu “quên đời”, thậm chí có kẻ tuyệt vọng, quyên sinh! Nhưng,
nếu tất cả chúng ta đều ý thức đúng đắn về hạnh phúc thì rất dễ dàng có được
hạnh phúc. Gương “yêu đời” của chúng ta sẽ cảm hóa được thế hệ trẻ và để lại
cho chúng những kinh nghiệm sống tốt đẹp mà chúng ta đã gặt hái được, cho đàn
em thấy rõ, đâu là ý nghĩa của cuộc sống, đâu là những ưu đãi tràn đầy đang chờ
đón con người.
Vậy, hạnh phúc là gì và ở đâu? Hạnh
phúc đang ở trong ta, trong lòng ta, trong tâm hồn bình yên của mỗi một người.
Thực tế và rất thực tế, mọi người
đều có và đang có hạnh phúc. Trong ta, có hai loại hạnh phúc: hạnh phúc tự
nhiên (béatitude) và hạnh phúc tự tạo (bonheur). Hạnh phúc tự nhiên, với từ ngữ
“tự nhiên (béatitude)”, cho chúng ta thấy đây là một loại hạnh phúc được ban
tặng mà không cần có sự góp sức của con người và cũng không cần chờ ý kiến có
muốn nhận hay từ chối, đó là hạnh phúc được
làm người. “Làm người”, nếu
không phải là hạnh phúc, thì trên mặt đất nầy, bạn muốn làm cái gì để được toại
nguyện? – Không muốn làm người, một người anh hùng tài ba miền Đông Á, văn hay
võ giỏi, muốn “làm cây thông đứng giữa trời mà reo”; một nhà thơ xứ Tây Âu xưa,
muốn “làm tảng đá bên dòng suối để nghe tiếng nước róc rách”; một nhà triết học
có nhiều tham vọng chốn Trung Đông (khoảng thế kỷ thứ tám), muốn “làm Thượng Đế
để thống lãnh loài người”…! Nhưng “muốn” chỉ để nói lên tâm trạng nhất thời,
một thoảng ngông đùa giải trí, chứ có bà mẹ nào sắp sinh con lại không muốn đứa
bé chào đời được “bình thường” như bao đứa bé bình thường khác. Người mẹ rất
sung sướng có được một đứa con bình thường. “Làm người”, không những là hạnh
phúc mà còn là nguồn hạnh phúc của người khác.
Hai là hạnh phúc tự tạo. Với từ ngữ “tự
tạo (bonheur)”, cho chúng ta hiểu loại hạnh phúc nầy do ta “tạo” nên và dễ bị
đánh mất, nếu không biết nâng niu, giữ gìn. Hạnh phúc tự tạo, không hẳn là giàu sang, không hẳn
là quyền cao thế rộng và cũng không hẳn là được
ngồi trên đỉnh cao của tình yêu lứa đôi… mà hạnh phúc là sự bình yên trong tâm hồn.
Bạn là người giàu sang, có quyền cao, thế rộng, có tình yêu tốt đẹp… nếu trong
tâm hồn không được bình yên, chắc chắn bạn không cảm thấy có hạnh phúc. Ngược
lại, bạn nghèo khổ, vất vả… nhưng có được sự bình yên trong tâm hồn, lúc bấy
giờ, bạn sẽ nhận ra điều ấy. Nhà nhân chủng học người Pháp, ông Yves Coppens,
đồng nhận xét với chúng ta, nhưng có kiểu nói như khó thực hiện: “Hạnh phúc là
sự thăng bằng trong đầu óc”; ông Philippe Dlerm thì đơn giản hơn: “Hạnh phúc là
sự hài hòa, là sự thanh thản…”. Còn các nhà tâm lý học, xã hội học khắp thế
giới, sau khi đã dày công nghiên cứu và trao đổi với nhau, đưa ra kết luận (kết
luận rất phù hợp với nhận thức của chúng ta): “Sự bất an trong lòng là nỗi bất
hạnh to lớn nhất”.
“Bình yên trong tâm hồn” ở đây, không
đồng nghĩa với “phải bằng lòng với số phận mình” (contentus sua sorte) như tư
tưởng thủ phận của những người cổ đại La Mã; không đồng nghĩa với “biết đủ thì
đủ” như lời khuyên của những người Á Đông xưa và cũng không phải “loại bỏ những
nhu cầu” thiết yếu trong đời sống để được “nhẹ tay”… mà “bình yên” trong ý thức
mới, ý thức cầu tiến có trách nhiệm, trong công bằng và tình người.
Muốn được “bình yên trong tâm hồn”,
trước hết phải chu toàn bổn phận mình (trong yêu thương và công bằng), bổn phận làm cha mẹ,
làm con cái, vợ chồng; làm học trò, làm thầy cô giáo; làm công nhân viên, làm
cấp lãnh đạo; làm dân, làm nhà cầm quyền… và bổn phận làm người. Chu toàn như thế nào, không cần nhắc lại ở đây nữa, ai cũng
“biết rồi”. Thứ đến, tạo cho mình 3 tinh thần cao quí: Biết thông cảm với những
thiếu sót của kẻ khác, biết tha thứ những lỗi lầm của họ và biết dắt dìu những
người non yếu quanh ta. Các đức tính tốt đẹp khác sẽ từ đó mà sinh ra.
Cố gắng hết mình để chu toàn bổn phận, kết quả thế nào là việc khác. Không chu
toàn bổn phận, lương tâm bị ray rứt; “chu toàn” thiếu yêu thương và công bằng, lương tâm bị dày
vò… không thể có sự bình yên trong tâm hồn. Những thiếu sót của người khác, ta
không biết thông cảm; những lỗi lầm của họ, ta không chịu tha thứ, mãi trách
móc giận hờn… làm sao tâm hồn bình yên được! Không kịp thời dìu dắt, khuyên bảo
những đứa trẻ non dại; không kịp thời đưa tay vói đỡ những người già yếu, tật
nguyền bên ta (khi điều kiện có thể), chẳng may họ gặp phải những chuyện không
lành, lương tâm ta sẽ bị ám ảnh và ân hận mãi, đánh mất bình yên trong ta. “Dìu
dắt”, không những là một tinh thần cao quí mà còn là một bổn phận nữa.
Dĩ nhiên, của cải vật chất rất cần cho
đời sống, nhưng phải biết tích góp trong công bằng và với lòng nhân ái. Nếu của
cải bạn có được qua gian tham, lừa gạt hoặc cướp giựt trên tay người khác…bạn
chẳng sung sướng gì! Của cải vật chất chỉ là phương tiện sống. Của cải có nguồn
gốc không tốt hay là sử dụng vào những mục đích không tốt, sẽ làm cho bạn đau
khổ. Địa vị trong xã hội cũng vậy, là vinh dự và là trách nhiệm, là bổn phận.
Có được địa vị nào là do bạn đủ tài đủ đức, chứ không phải do mưu đồ, thủ đoạn
để chiếm lấy, đó mới là vinh dự, đáng được vui và đáng được tự hào. Dù cương vị
nào, bạn cũng phải ra sức chu toàn bổn phận mình cùng với các cộng sự, trong công bằng và trên
nền tảng tình người. Ta làm việc với lòng nhân ái, với
tình người, chắc chắn mọi việc sẽ có kết quả tốt đẹp, lòng ta cảm thấy vui và
nhiều người khác cũng được hưởng nhờ.
Khi “công nhận hạnh phúc đích thực là
sự bình yên trong tâm hồn”, bạn dễ dàng nhận được hạnh phúc và cũng dễ dàng
mang hạnh phúc đến cho những người chung quanh, nhất là những đám trẻ “ăn
chơi”, những kẻ quậy phá, thích sát hại… Những hạng người nầy do mù quáng mà
“hận đời”, muốn trả đũa, muốn báo thù… Nhắc nhở cho họ thấy “trả đũa”, “báo
thù”… dù có căn nguyên, cũng chẳng dễ gì được và có được chăng nữa cũng chẳng
bao giờ được yên lòng. Cách “trả đũa, báo thù” dễ thành công nhất, dễ đem lại
sung sướng cho lòng mình và cho mọi người, là thông cảm và tha thứ.
Nhưng “bình yên” thế nào được, bạn nghĩ
thầm, khi hãy còn đầy dẫy những công việc chồng chất chung quanh!
Bạn là nhà lãnh đạo, là người điều hành
ư? - Rất vinh dự với người đời. Địa vị càng cao, vinh dự càng lớn thì trách
nhiệm càng nặng nề. Bạn phải lo liệu, tính toán để chu toàn bổn phận mình. Bạn
chỉ vất vả chứ tâm hồn đâu có gì ray rứt, ân hận… để phải mất bình yên. Bạn là
công nhân viên, là thương gia, là nông dân… “chu toàn bổn phận mình”, bạn có
“cực khổ” chứ không đau khổ. Bạn đang thiếu ăn, thiếu mặc? – Tích cực làm việc
hơn nữa và một khi nhiều người nhận thức đúng đắn về hạnh phúc, chắc chắn sự
“kiếm sống” của bạn sẽ không khó khăn lắm như bây giờ. Và, ngày hòa bình được
lập lại (không khó, sau đây có hiến kế), mọi sự sẽ tốt đẹp như lòng mong muốn.
Chiến tranh không còn, vốn dự trữ cho quốc phòng không cần thiết nữa. Lấy đó mà
lo cái ăn cái mặc cho những người đang thiếu; sử dụng sức trai trẻ vào lao động,
sản xuất ra nhiều của cải, không để “ngồi giỡn đạn đùa bom suốt tháng ngày” như
trước đây. Những nơi dư thừa của cải (chắc chắn là có dư thừa), giữ lại làm gì
cho phí, chuyển đến biếu cho những chỗ đang cần. Súng đạn, biến thành sắt thép
để xây thêm trường học, bệnh viện; xe tăng, tàu chiến… biến thành máy cày, máy
xới, biến thành phương tiện chuyên chở lương thực, thuốc men cho nhau. Sức
người, sức của đã dư thừa, ngành y dược sẽ được
đầu tư nhiều hơn, bệnh tật sẽ được chữa lành. Một tương lai tươi sáng đã mở ra,
những băn khoăn của bạn không còn lý do để tồn tại.
Cũng có thể, bạn cho đây là một ý kiến
tương đối chấp nhận được hoặc “tạm mượn” để mua vui cho cuộc sống, bạn cứ thực
hiện theo tinh thần của mình. Mang niềm vui “tạm bợ” nầy chia sẻ với những người
bên cạnh, bạn sẽ thấy vui nhiều hơn và cứ như thế, nhân rộng, dần dần bạn sẽ
nhận ra đã có được một niềm vui thực sự trong lòng, chứ không phải là một “ý
kiến” suông, một ước mơ suông.
Ngoài ra, những người có nghệ thuật
sống, cũng dễ dàng tìm được hạnh phúc cho mình, dù trong bất cứ tình cảnh nào:
sống có niềm tin, có lý tưởng hoặc có một đam mê trong sáng nào đó…
Bạn đã ý thức rõ, ý thức đúng đắn về
hạnh phúc, nhưng tâm hồn không phải lúc nào cũng được bình yên. Thỉnh thoảng
cũng có những lo âu, những buồn phiền… Không nên lấy làm lạ, trên đời không có
gì tuyệt đối. Sự tuyệt đối sẽ làm bạn nhàm chán. “Nhờ” có đau khổ bạn mới thấy
giá trị của hạnh phúc. Nhờ có màu đen bạn mới biết thế nào là màu trắng. Không
những “đời là bể khổ” mà còn là một “trời hạnh phúc”nữa. Đời không những đẹp
như một bài thơ, như một bức tranh mà đời còn đẹp như một bản nhạc nữa, nghĩa
là phải có “lúc trầm, lúc bổng”.
Tóm lại, bạn cố gắng chu toàn bổn phận
mình trong công bằng và trách nhiệm, trong nhiệt huyết và tình người. Biết
thông cảm với những thiếu sót của kẻ khác, biết tha thứ những lỗi lầm của họ và
phải biết dắt dìu những người non yếu bên ta… lòng bạn sẽ được thanh thản, tâm
hồn bạn sẽ được bình yên, đó là hạnh phúc, hạnh phúc đích thực của con người.
(Trích sách Tin vui
của bạn, xb 2009, tg Lê Quý Long)
6. Nhân loại bất tử:
Nỗi khổ đau nào cũng có thể vượt qua,
cũng có thể tránh khỏi. Nhưng khổ đau về cái “chết” của con người, từ xưa, chưa
một ai có thể tháo gỡ trọn vẹn được, kể cả các tôn giáo, cũng chỉ an ủi, hứa
hẹn chờ kiếp sau! Nay, thử xem vị này “toan liệu” ra sao? Xin mời đọc bài viết
của tác giả:
NHÂN LOẠI BẤT TỬ
Lê Quý Long
Là người, ai cũng có những niềm vui và nỗi buồn. Nếu may mắn có được niềm
vui, dù lớn hay nhỏ, là điều đáng mừng cho nhau. Ngược lại, nếu gặp phải những
đau buồn, mỗi người cũng đã có cách riêng để tự giải quyết cho mình. Nỗi buồn thiếu
cái ăn cái mặc, kém sức khỏe… chúng ta có thể cố gắng vượt qua. Buồn vì chỗ
đứng trong xã hội chưa được như ý, buồn vì tình cảm bị sứt mẻ, tình yêu dở
dang… chúng ta cũng có thể hàn gắn, điền khuyết lại được. Hoặc, cũng có người,
sinh ra và lớn lên trong ưu đãi tràn đầy, chưa hề biết những nỗi đau buồn ấy là
gì. Nhưng tất cả, tất cả chúng ta, đều phải mang cùng một nỗi đau buồn to lớn
nhất trong đời, mà chưa một ai có thể tháo gỡ trọn vẹn cho nhau: Cái “chết” của
loài người!
Đứng trước những nỗi đau khổ vì cái “chết” của nhau, các bậc vĩ nhân, thánh
nhân… nhất là các tôn giáo, đã đưa ra nhiều triết thuyết để an ủi, để xoa dịu
nỗi đau cho nhau, hy vọng còn gặp lại ở một nơi nào đó: dưới Suối vàng hoặc
trên Thiên đàng; được vào cõi Niết bàn hay miền Cực lạc… Song thực tế, không
mấy người theo kịp những triết thuyết cao siêu ấy! Số đông còn lại, thì sao?(!)
Và cho dù cả nhân loại có theo kịp những lý tưởng cao đẹp ấy chăng nữa, tại mặt
đất nầy, thực tế chúng ta phải đau khổ trước cái “chết” của người thân yêu!
Biết bao cô gái đã ngất xỉu khi nghe tin mẹ mình “chết”! Có cô lăn xả vào quan
tài, muốn nằm chung với mẹ mình khi tẩm liệm; có cô đòi nhào xuống huyệt đất,
để được tiếp tục sống gần mẹ…
Tại sao chúng ta phải đau khổ quá nhiều như vậy? Hẳn chúng ta đã bị ấn
tượng: “chết” là mất, là không còn gì, là không bao giờ tìm thấy lại… Hoặc bi
quan hơn thế nữa: “Tử giả biệt luận”! Thêm vào đó, chúng ta đang đau khổ, thì
những vòng hoa phúng điếu như xúi giục chúng ta phải đau khổ hơn nữa: “Vô cùng
thương tiếc”, “Xin vĩnh biệt”…
Ai đó đã kết thúc bài điếu văn khóc mẹ mình: “Cúi lạy quý thân bằng quyến
thuộc, thưa các ngài, mẹ tôi không chết, không mất… gì cả. Người chỉ yên nghỉ
nơi đây và đang hiện diện trong tôi, trong anh chị tôi, trong đàn cháu nội,
ngoại… của Người”.
Những ai có mặt trong lúc tiễn đưa, phải ngạc nhiên và lấy làm khó chịu với
những lời tuyên bố “lạ tai” ấy. Nhưng suy xét cho cùng, chúng ta không thể phủ
nhận sự kiện thực tế rất rõ ràng nầy.
Kết thúc bài điếu văn như vậy và được mọi người tiếp tục làm như vậy, dần
dần, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng trong những nỗi buồn phải từ giã người thân
yêu, dù vẫn phải ngậm ngùi, lưu luyến và khóc thương cho người đã âm thầm nằm
xuống! Ước gì những giọt nước mắt nầy nhẹ nhàng như những giọt nước mắt của
những bà mẹ tiễn con gái về nhà chồng; như những giọt nước mắt của những người
cha tiễn con lên đường du học phương xa… Và ước gì trên những vòng hoa phúng
điếu, chúng ta đều sửa lại: “Xin tạm biệt…” có phải hợp lý và nhẹ nhàng hơn cho
nhau không? Sử dụng từ “tạm biệt” là cách an ủi nhau sâu sắc và hữu hiệu nhất.
Xin xoá hẳn từ “chết” trong ngôn ngữ của loài người, kể từ hôm nay, vì trong cả
vũ trụ, không có hiện tượng nào là “chết”, mà chỉ có biến hóa, biến đổi hay
biến dạng… Vậy, xin dùng và nên dùng từ biến
dạng thay thế cho từ “chết” để loài người không còn bị ám ảnh lệch lạc về
hiện tượng nầy nữa, hầu xóa hẳn được một nỗi đau to lớn nhất trên đời.
“Mẹ tôi không chết, Người hiện diện trong tôi”, nói lên lòng thương yêu vô
bờ, nỗi tiếc nhớ khôn nguôi, một tình cảm bao la, sâu thẳm và chân thật; nói
lên lòng mong muốn được sống gần, sống chung với mẹ, nhưng không chung “cùng
một quan tài”, “cùng một huyệt đất” như các cô gái trước đó, mà “chung” trong
quan niệm mới, trong minh định mới… trên nền tảng thực tế của khoa học. Lòng
mong ước được tiếp tục sống gần, sống chung, để gắn liền với đời sống của mẹ
mình, thực tế họ đã có được và thực sự họ đã “là một”, qua công cuộc họ đang kế
thừa sự sống của mẹ mình. Và cứ như thế, cho chúng ta thấy, con người từ nguyên
thủy vẫn mãi mãi còn sống trong những con người sau cùng.
Một người “nằm xuống” chỉ là một hiện tượng thay hình đổi dạng. Nói cách
khác, sự “chết” của con người, phải hiểu cho đúng với thực tế, chỉ là một hiện
tượng “biến dạng”.
Trong đời sống hằng ngày, mỗi người chúng ta luôn luôn chịu sự biến dạng
không ngừng: Các tế bào già bị đào thải, nhường chỗ cho những tế bào non phát
triển. Sự biến dạng nầy, tuy có tính cách hủy diệt nhưng vẫn giữ được nguyên thể,
nên mắt ta khó nhìn thấy. Cha mẹ sinh con cái là sự biến dạng có tính cách kế
thừa nhưng phải chịu phân thể. Dù biến dạng nguyên thể hay phân thể, cũng chỉ
là những biến dạng từng phần. Khi con người nằm xuống, nhắm mắt xuôi tay, vĩnh
viễn bất động, là lúc cả thân xác bị biến dạng hoàn toàn, ta gọi hiện tượng nầy
là biến dạng toàn phần.
Đã là biến dạng, thì biến dạng từng phần hay biến dạng toàn phần, cũng là
biến dạng. Sao trong suốt thời gian biến dạng từng phần, chúng ta không thấy
đau buồn, than khóc? Mà đến lúc gặp biến dạng toàn phần, lại quá đau đớn, đến
nỗi ngất xỉu? Phải chăng, chúng ta đã bị “ấn tượng di truyền”, một ấn tượng sai
lầm từ xa xưa,là « chết »!
Ngày nay, bạn đã biết rõ: quả đất không phải vuông, không phải đứng yên một
chỗ… như thời xưa, ông bà chúng ta đã nhận xét. Thì từ đây, từ hôm nay, ngay từ
lúc nầy, bạn hãy mạnh dạn nhìn nhận thực tế: con người không phải chết, không
phải mất… mà chỉ liên tục chịu sự biến dạng.
Đúng thế, có lẽ bạn đã thừa biết, mỗi một con người chúng ta, gồm có hai
phần: phần tinh thần và phần thể chất.
Phần tinh thần siêu việt, không bị chi phối bởi qui luật biến hóa của vũ
trụ vật chất, nên “bất biến”: mãi mãi còn đó.
Phần thể chất nầy gồm có ngôn ngữ, cử chỉ, hình bóng,… và thân xác. Ngôn
ngữ, cử chỉ, hình bóng, suy nghĩ… đã được phát thành sóng, đã được ánh sáng
mang đi trong không gian nầy và còn đó. Nếu có một chiếc máy tối tân, ta cũng
sẽ ghi nhận lại được. Các đài truyền thanh, truyền hình, giúp chúng ta dễ hiểu
việc nầy. Nếu ý thức được như vậy, những kẻ gian ác không bao giờ dám lén lút
trong bóng tối hoặc tránh mắt người đời để phạm tội, chúng phải sợ, vì rất có
thể, gặp một chướng ngại vật nào đó, các làn sóng mang âm thanh, ánh sáng mang
hình ảnh sẽ phản hồi, những ngôn ngữ kia, sẽ có người nghe được; những hình ảnh
đen tối kia, sẽ có người bắt gặp… Hiện tượng nầy, xưa nay trên thế giới, cũng
đã từng xảy ra đây đó, mà người bình dân thường hiểu là “ông nọ bà kia hiện về,
mách bảo…” Và, những ảo ảnh trong sa mạc, là một đơn cử. Khổng Tử cũng có cảm
nhận na ná như thế: “Lưới trời tuy lồng lộng, một nhỏ nhoi nào, cũng không thể
lọt khỏi”.
Về thân xác, một thời chỉ là cái bào thai trong bụng mẹ; một thời là tấm bé
ngơ ngác trong nôi; một thời nhí nhảnh trong bộ quần áo mới của tuổi học trò…
Ba thời kỳ ấy, có ai dám chối bỏ, không phải là chính mình? Và rồi, một thời
trong tư cách đứng đắn của tuổi trung niên; một thời già nua, còng lưng trên
chiếc gậy; một thời phải lặng lẽ đi vào lòng đất với nắm xương khô hoặc với một
chén tro tàn, theo kiểu hỏa táng… Ba thời kỳ kế tiếp nầy, hẳn cũng chính là ta? Thân xác ta cũng vẫn còn đó. “Vật chất luôn biến hóa,
nhưng không mất vật chất” kia mà.
Vậy, một người “nằm xuống”, đã mất những gì để phải vô cùng đau đớn, khóc
than não nuột?
Bạn có thể viện lý do: “Tôi đã mất người thân yêu trong vòng tay…”
Đứa bé nhà kia thích bế mãi trong tay một con búp bê xinh đẹp. Cha mẹ cháu
cũng quí lắm, mang búp bê đặt vào trong tủ kính. Bé òa khóc, đòi lấy trở lại,
muốn ẵm búp bê mãi trong lòng cho thỏa ước muốn. Bạn nên giải thích cho bé rõ
thì dần dần bé sẽ bớt khóc, dù bạn không mở tủ lấy
búp bê trao lại cho bé. Ngược lại, nếu bạn “đồng tình” với bé: “Vô cùng thương
tiếc”… bé sẽ đập đầu vào tường mà giãy giụa khóc nhiều hơn!
Cũng có thể bạn công nhận con người chỉ biến dạng chứ không mất đi, nhưng
bạn chỉ thích hình dạng cũ, hình dạng mà bạn đã nhiều gắn bó, thân thương..?
Cô học trò nọ vừa xin được cái kén đẹp, vàng óng những vòng tơ, đặt lên
trang vở của mình, thích thú ngắm mãi. Chẳng bao lâu, cái kén phải hư đi. Cô bé
không buồn, vì đã có một cánh bướm xinh xắn xuất hiện. Rồi cũng chẳng bao lâu
sau, cánh bướm lại phải ngã gục. Bé cũng không buồn, đã có một đàn tằm con thay
thế. Người thân yêu của chúng ta nằm xuống, chúng ta có cảm tưởng như mất họ
trong vòng tay của mình, hoặc chúng ta chưa thấy có gì thay thế vào đó, tốt xấu
thế nào cũng không đoán được, dĩ nhiên không thể vui, nhưng cũng đừng vội buồn
sầu, đau khổ.
Một bưu tín viên đến nhà, mang cho bạn một bức điện tín. Chưa rõ nội dung
sẽ là tin vui hay buồn mà bạn vội khóc lên sao?
Hoặc bạn vin vào tâm lý chung của mọi người, trong suốt thời gian chịu sự
biến dạng từng phần, chỉ là những sự “mất dần”, nên nỗi buồn cũng chỉ dần dần,
còn có thể “dễ chịu”. Nhưng đến lúc biến dạng toàn phần, nỗi buồn dồn dập,
chồng chất lên to lớn quá, khiến con người phải vô cùng đau khổ, có người đau
khổ đến ngất xỉu?
Xin thưa, nếu vậy, bạn cũng nên lưu ý sâu xa hơn tý nữa, khi con người “nằm
xuống” cũng không phải là lúc “phải mất sạch”, cũng chỉ “mất dần” đấy chứ! Cha
mẹ sinh ra người con đầu, là cắt một phần thân thể mình để tạo nên một sự sống
mới. Tạm tính là cắt đi một nửa, còn lại một nửa. Khi sinh người con thứ hai,
cha mẹ cắt một nửa thân thể của mình còn lại, tức là một phần tư thân thể ban
đầu. Lúc nầy, các ngài chỉ còn lại một phần tư. “Phần tư” nầy, dù biến dạng
toàn phần, cũng chỉ biến dạng một phần tư thân xác ban đầu của cha mẹ. Nỗi đau
buồn của bạn cũng phải công bằng mà “chia tư”, nào có “chồng chất lên to lớn quá”!
Tóm lại, nhờ có sự tiến bộ của khoa học, chúng ta biết quả đất tròn và
chuyển động; thì cũng nhờ sự tiến bộ của khoa học, chúng ta thấy rõ ràng hơn,
loài người không phải chết, không phải mất đi… mà chỉ liên tục biến dạng.
Sự trường tồn của nhân loại, qua sự biến dạng phân thể có tính cách kế thừa
sự sống, giúp chúng ta dễ nhìn nhận “Nhân
loại bất tử”. Nhìn nhận “Nhân loại
bất tử” là một sự nhìn nhận hiển nhiên, nhưng bị cuộc sống chi phối quá
nhiều, chúng ta phải vật lộn với bao nhiêu công việc khác mà ngỡ là cần thiết
và cấp bách hơn… trong khi đó phải tạm gác lại hoặc lãng quên một điều tối quan
trọng, cần thiết và cấp bách hơn nhiều, là “ta
không chết” mà cứ ngỡ là “ta chết”!
Vì thế, chúng tôi van xin quý vị, hãy vì những người thân yêu nhất của mình,
quý vị mạnh dạn công bố với họ rằng “Nhân
loại bất tử”, để … khi quý vị nhắm mắt xuôi tay, họ bớt đau khổ phần nào.
Nào, chúng ta hãy mạnh dạn nhìn vào thực tế, mạnh dạn công nhận và công bố
cho nhau “Nhân loại bất tử”. Công
nhận “Nhân loại bất tử” là xoa dịu
nỗi đau to lớn nhất cho nhau; là nhắc nhở cho nhau thấy rằng mỗi người đang
mang thân xác của cha mẹ mình và nhìn nhận thân xác cha mẹ mình nơi thân xác
anh chị em, phải thương yêu và quí trọng lẫn nhau để xứng đáng là những người
kế thừa sự sống của các ngài.
Ý thức rõ như thế và nhân rộng ra, giữa con người với con người, sẽ dễ dàng
thương yêu nhau hơn, dễ dàng thông cảm, tha thứ cho nhau hơn. Anh chị em trong
một nhà, không còn ganh ghét nhau; người trong một nước, không còn chia rẽ; dân
tộc nầy, không còn tranh chấp, hận thù, ghìm súng sát hại dân tộc kia! Bởi lẽ,
họ đã hiểu rõ, họ không có quyền hạ sát những sự sống phía trước, là những sự
sống, cũng như họ, đang có trách nhiệm nối dài sự sống của Tổ tiên mình.
Được vậy, nỗi đau của nhân loại dần
dần sẽ vơi đi và nền hòa bình thực sự sẽ sớm đến với mọi
người.
(Trích sách Tin vui của bạn, xb 2009,tg Lê Quý Long)
Hơn ai hết,
Các nguyên thủ quốc gia,
Các giáo chủ trên toàn cầu,
Xin hãy mạnh mẽ lên tiếng cổ xuý Tình Người,
cho nhân loại sớm được an vui.
Lê Quý Long.
TỔ
QUỐC VIỆT
(Lê
Quý Long diễn ca)
Việt
Dựng hồn lịch sử mấy ngàn năm qua
Máu xương tô thắm sơn hà
Kết đoàn tô thắm tình nhà, lòng dân.
Cội nguồn từ Lạc Long Quân
Gian nan cùng với Âu Cơ lập dòng
Sinh trăm trứng, nở trăm con
Chia nhau lập nghiệp, lòng son ngập ngừng
“Năm mươi”(50) theo mẹ lên rừng
“Năm mươi”(50) xuống biển sống cùng với cha.
Chung tay dựng nước non nhà
Văn Lang, quốc hiệu; vua đầu: Hùng Vương.
Dân ta là giống Tiên Rồng
Nước ta lại có dạng rồng nguy nga:
Chân trước là đảo Hoàng Sa
Chân sau là đảo Trường Sa (ngàn đời)
Đuôi dài Phú Quốc vươn khơi
Mào dài kiêu hãnh Lai Châu xanh màu…
Cớ sao cái lũ giặc Tàu
Bám theo cướp bóc đến nay không chừa?
Xa xưa, cái thuở xa xưa
Triệu Đà xảo quyệt, đánh lừa Mỵ Châu
Nỏ thần, chúng tráo, còn đâu…
Nước ta (Âu Lạc) vào tay Triệu Đà !
Hán đùng đùng kéo quân qua
Đánh chiếm đất Triệu; đất ta, chia phần:
Nhật
Chúng luôn áp bức, dân làm ngựa trâu…
Năm “ba chín”(39), ngọn cờ đầu
Hai Bà Trưng đã đuổi Tàu tháo lui.
Tàu lui rồi lại “chẳng lui”
Tính tham vơ vét…mà lui “sao đành”!
“Hai bốn tám”(248), tiếp đấu tranh
Bà Triệu khởi đánh tan tành giặc Ngô.
Về sau, quân ít thế cô
Phải cam thất trận, dưới mồ còn căm!
“Năm bốn bốn”(544), đánh ngoại xâm
Lý Bôn quyết đuổi giặc Lương khỏi bờ
Chẳng may lâm bệnh bất ngờ
Giao Triệu Quang Phục cầm cờ khiển binh
Lên ngôi lấy hiệu Việt Vương
Lui về Dạ Trạch, lợi đường đấu tranh.
Nhưng sau, cơ sự chẳng thành
Đến Mai Hắc Đế, rạng danh một thời:
Quân Đường bị đánh tả tơi
Rồi sau, non nước… cũng rơi tay Tàu!
Nghìn nghìn cảnh khổ, đớn đau
Dân ta gánh chịu, nỗi này khó quên
Mai Hắc Đế đã đứng lên
“Bảy hai hai”(722) ấy, làm nên sử vàng.
Tàu thêm mười vạn binh sang
Phía ta sức yếu, khó tan giặc Đường.
Ra tay, Bố Cái Đại Vương
Năm “bảy chín một”(791) rạng phương trời Hồng
Hai mươi năm, mãi tiến công
Đuổi được lũ giặc cuồng ngông chạy về.
Rồi mây… lại phủ sơn khê
Bạo tàn Nam Hán trên quê hương mình !
“Chín ba chín”(939), tướng Ngô Quyền
Đánh tan giặc Hán: xác, thuyền…đầy sông.
Trận Bạch Đằng đã nằm lòng
Toàn dân nô nức tôn vua: Ngô Quyền.
Dân yếu thì nước chẳng yên
Mỗi vùng, tự vệ; mỗi miền, tự xưng..!
Nỗi lo “thập nhị sứ quân”
Nên Đinh Bộ Lĩnh cùng chung Lê Hoàn
Thống nhất “nhị thập” vẻ vang
Lên ngôi “chín sáu tám”(968) Đinh Tiên Hoàng.
Tình hình còn lắm ngổn ngang
Vua lại mất sớm, Lê Hoàn loay hoay…
Thái hậu, ấu chúa bên tay
Giặc ngoài biên ải vây dày khắp nơi
Âu đây cũng đã cơ trời
Triều đình,Thái hậu trao ngôi Lê Hoàn
Một thân lèo lái giang san
Lên ngôi với hiệu là Lê Đại Hành
“Chín tám không”(980), mốc rạng danh
Dân mình no ấm, an lành, yên vui.
Nối ngôi, chỉ có hai người
Đến vua Long Đĩnh, kẻ cười, người khinh!
Các quan văn võ triều đình
Tôn Lý Công Uẩn thăng vinh ngai vàng
“Mười mười”(1010), Thái Tổ, chỉnh trang
Mọi việc triều chính đường hoàng hơn xưa.
Nhà Lý với chín đời vua
Về sau, quyền bính vào tay nhà Trần.
Trần Thủ Độ lắm oán, ân
Bày ra Trần Cảnh, vợ dâng ngai vàng.
Chín đời Trần, cũng sang trang
Giặc Minh cướp phá, dân càng khổ đau
Phất cờ, Lê Lợi đuổi Tàu
Lên ngôi Thái Tổ, rạng ngời non sông!
Mười đời Lê tiếp nối ngôi
Phải thời loạn Mạc: vua, tôi… “ẩn mình”.
Cũng nhanh, khôi phục triều đình
Tiếp thêm “mười sáu”(16) vua Lê trị vì.
Nước nhà lại gặp lâm nguy
“Vua Lê, Chúa Trịnh” khiến suy yếu dần
Nguyễn Huệ kêu gọi toàn dân
Đứng lên đánh đuổi Mãn Thanh về Tàu.
Xua giặc, giải thoát dân ta
Lên ngôi hoàng đế hiệu là Quang Trung.
Tiếc thay một đấng anh hùng
Số trời yểu mệnh, không cùng nước non!
Đạo quân Nguyễn Ánh vẫn còn
Thừa cơ, nắm lấy chính quyền, lên ngôi.
Sau khi thống nhất nước rồi
Gia Long là hiệu của người ngôi cao.
Nguyễn triều phải lắm lao đao
Giặc Tây cũng đã nhảy vào: xót xa !
X
Cuối cùng, ta giữ được ta
Giữ được dòng máu, nhà nhà an vui.
Việt
Tình dân: bất khuất; tình người: bao la…
Ai ơi ! giữ nước non nhà.
Lê
Quý Long.